"Ngựa Phi Đường Xa"

 

 

Kỵ mã trời Nam

(Q nhà lá vườn phóng tác từ Phù Đổng THiên Vương)

- Thời vua Hùng, dân ta sống trong thanh bình, thịnh vượng. Nhưng giặc phương Bắc luôn rình rập chờ dịp tràn xuống . Bấy giờ ở làng Võ có cặp vợ chồng viên ngoại tuổi trạc lục tuần, ăn ở hiền lành phúc hậu . Nhờ chí thú làm ăn, họ có nhiều ruộng đất, và cư ngụ trong một gia trang với nhà to, cửa rộng, vườn tược, ao cá bao quanh, cùng nhiều gia nhân giúp việc.

Nhưng tội cái ông bà viên ngoại lại bị hiếm muộn, không con cái từ khi thành thân. Bao năm, hai vợ chồng thường đem của cải ra chia sẻ, bố thí cho những người nghèo. Họ hay đến đền chùa cầu xin thần thánh ban cho mình mụn con để nối dõi tông đường. Ngày tháng trôi qua, họ kiên nhẫn chờ đợi, khấn vái và nghĩ thế nào cũng có ngày Hoàng Thiên bất phụ lòng người.

- Vì không bận bịu con cái, việc đồng áng có gia nhân đắc lực và cụ bà trông nom phụ, cụ ông bắt đầu xoay sang với thú nuôi ngựa. Cụ nuôi đủ loại ngựa từ nhỏ đến lớn, đủ màu từ xích thố , hắc mã , bạch mã . . .

Ngày ngày vào mỗi sáng, cụ ông thường cưỡi con ngựa ô yêu quí nhất của mình lên đồi, xuyên cánh rừng thưa . . . Sau cùng mới phóng ngựa ra xem chuyện đồng áng . . . Dần dần cụ trở thành một kỵ sĩ tài giỏi, lão luyện khó ai sánh bằng và có riêng lò rèn nhỏ để đóng móng ngựa.

-Thời gian đằng đẵng trôi qua. Mãi đến hơn 40 năm sau khi cả hai ngoài 60 tuổi, tưởng đã tuyệt luôn đường tử tuất. Không ngờ một buổi sáng đẹp trời, mây hồng rực rỡ, cụ bà hớn hở khoe với chồng mình có tin mừng rồi ! Cụ ông mừng lắm, ra vào lúng túng không biết làm thế nào với cái tin trọng đại này. Cả hai cũng chưa vội cho bạn bè , thân thuộc biết ngay vì ngại nếu có gì không thành thì mình sẽ trở thành trò cười cho xóm giềng. Nhất là cụ bà đã trên 60 mươi, ở tuổi đã lên chức ông bà , sắp kề miệng lỗ, mà lại có mang như những người trẻ thì ai mà không thấy kỳ cục.

Đến khi thực sự đã cấn thai được 4, 5 tháng thì cụ bà biết là khó dấu nổi. Cụ kêu thợ làm thêm cái nhà phía sau để tránh xa những ánh mắt tò mò. Cụ cấm gia nhân không được nhỏ to ra ngoài vì xấu hổ , sợ bị chê cười là già rồi mà vẫn còn ham chuyện nhong nhong cưỡi ngựa. Khi bụng phình lên như cái trống cái, hết đường dấu diếm thì cụ trốn luôn ở nhà sau. Cụ ông thì hể hả lắm vì hai vợ chồng ở với nhau đã 40 năm bây giờ có mụn con thì đúng là Trời còn dòm lại. Thiếu gì những cụï trên 50, 60, có của hay không, vẫn đèo bồng năm thê bảy thiếp nữa . Còn cụ vốn thuộc loại nhất phu nhất phụ, tu tỉnh làm ăn muốn cho yên cửa yên nhà nên chẳng màng gì khác.

-Ngày khai hoa nở nhụy chỉ có bà mụ, đứa tớ gái tín cẩn có mặt trong nhà. Bà mụ Mão được bí mật đón vô từ tháng trước để giúp đỡ, sửa soạn cho ngày cụ bà lâm bồn. Vào cái ngày định mệnh khi trời mới sáng mờ mờ, bà Mão đang nằm ngoài phản nghe cụ bà kêu to trong buồng, liền chồm dậy lao vào. Cụ bà bắt đầu âm ỉ chuyển bụng. Cơn đau tăng lên dần đến lúc cụ chịu không nổi nữa phải rên la, lăn lộn ôm chặt chân giường. Bà Mão xoa bụng, đỡ cụ đứng dậy đi vòng vòng quanh buồng cho đỡ đau . Cụ ông ngồi ngoài hồi hộp chờ đợi. Tơ, đứa tớ gái đứng ngồi loanh quanh không biết mình phải làm gì giúp. Đêm xuống cụ bà đau hơn, rồi lả người ra.

Qua ngày hôm sau cơn đau làm cụ bà chịu hết nổi . Khoảng giờ Ngọ tưởng ngất đi, nghĩ người mình sắp nứt ra thì cụ sanh ra một bé trai tròn trịa kháu khỉnh.

Nhưng lạ thường, cậu bé bị phát mạnh vào mông nhưng vẫn lì, không cất tiếng khóc chào đời như những trẻ khác ! Bà mụ Mão, kinh nghiệm trong nghề từ bao năm , đã cắt nghĩa từ trước, cụ bà nay lớn tuổi, lại sanh con so nên sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở, chưa kể cả mẹ lẫn con có thể mất mạng nếu sinh ngược.

- Cậu ấm ra đời trong giàu sang, được viên ngoại , gia đình cưng như cứng trứng hứng như hứng hoa. Cậu ăn no, chóng lớn, muốn gì được nấy, mọi người hầu hạ hết mình. Nhưng của đáng tội mãi đến năm 3 tuổi cậu vẫn chưa biết đi và không nói được câu nào. Từ đó viên ngoại không muốn cho cậu đi ra ngoài sợ bị chê cười, chọc ghẹo. Cụ cũng không cho ai vô nhà gặp cậu sợ họ về nói này nói kia ra ngoài. Cụ chạy hết thầy này đến thầy khác, hy vọng tìm được cách chữa cho đứa con trai duy nhất. Nhưng bao nhiêu thuốc thang, bùa ngải chữa chạy không giúp được gì hết. Hai cụ thường lên chùa, đền . . . từ nhỏ tới lớn, xa đến gần . . . để cầu xin khấn vái. Dịp lễ lậy viên ngoại thường mở kho gạo, hoa màu . . . phát chẩn cho dân nghèo. Cụ hy vọng Trời Phật sẽ động lòng cho con mình có thể ngồi dậy, bước đi và nói chuyện như những đứa trẻ bình thường khác.

 

- Một hôm vào lúc chập choạng tối, một lão trượng trang phục tựa đạo sĩ, đến gõ cổng xin gặp viên ngoại. Gia nhân vào báo. Linh tính có chuyện gì , cụ ông ra mời ngay lão trượng vào nhà. Dưới ánh sáng nhạt buổi chiều, lão trượng râu tóc bạc phơ, người gầy , đầy vẻ tiên phong đạo cốt, cất giọng như chuông vàng :

"Bần đạo tu hành trên núi Ninh Sơn" .

Lão trượng đưa ngón tay chỉ về dãy núi ở hướng Đông ngoài xa.

"Ta đi ngang đây đã ba đêm, thấy nhà này vượng khí bốc cao liền xin vào gặp ngay."

"Mời sư phụ ngồi xuống nghỉ chân. Bay đâu rót trà. Hay . . .sẵn trời đã về chiều, . . . mời sư phụ dùng luôn chút cơm mọn ?"

- Cụ ông nhìn lão trượng, rồi nhìn trời đang tối dần, hỏi tiếp :
"Và . . . cũng sắp tối hay mời sư phụ nghỉ lại đây, sáng mai lên đường."
"Cám ơn thí chủ. Ta tu hành ăn uống kham khổ quen rồi, cho chút cơm chay cũng được . Còn nghỉ ngơi, ta xem trời là màn, đất làm giường, ngủ đâu chả được, không thành vấn đề."

- Rồi lão trượng dò hỏi :
"Chẳng hay mọi chuyện trong nhà vẫn bình thường ?"
"Bẩm sư phụ."

Ông bà viên ngoại nhìn nhau hội ý rồi cụ ông ngập ngừng nói.

"Vợ chồng tôi hiếm muộn lâu rồi. Nhờ Trời phù hộ, vợï tôi mới đẻ được thằng bé cách đây 3 năm. Nhưng không biết sao cho tới giờ cháu vẫn chưa ngồi được , và cũng chưa biết nói nữa !"

"Hừ . . .lạ nhỉ. Đâu thí chủ thử cho ta nhìn qua công tử chút ?"
"Tơ đâu, bồng công tử ra đây."

Đứa tớ gái liền bồng cậu ra . Cụ bà đỡ lấy rồi đặt nhẹ xuống tấm chiếu hoa trên cái phản gỗ liêm. Lão trượng lại gần quan sát rồi vén tay áo thụng lên, sờ mặt, xem nắn khắp người cậu ấm. Đoạn ngồi xuống cái tràng kỷ xòe tay ra bấm độn một hồi, rồi lão bỗng vỗ đùi một cái :
"Quí . . tướng . . thật quí . . tướng . . . không ai bằng !"
"Dạ . . .dạ . . .Bẩm . . ngài cắt nghĩa thêm dùm . . ."
Ông bà viên ngoại ngồi bên cạnh nóng lòng.
"Đại quí tướng, sau này . . . tất cả được nhờ qúi tử này chứ không phải tầm thường."

Lão trượng gieo thêm một quẻ khác , lầm bầm nhẩm tính một hồi rồi nhăn mặt tiếp:
"Nhưng khổ quá . . , chữ tài liền với chữ tai một vần. Hừ . . .Trời sao lại bắt bậc hiền tài chịu nhiều thử thách khó khăn . . .cho nên cậu đây chưa nói, chưa cất bước được. Nhưng sau này thì . . . thiên mã bất nan truy, chả ai sánh kịp. Hừ . . hừ . .lạ quá."
"Xin lão trượng giúp đỡ, chữa dùm. Cả nhà chúng tôi nguyện cắn cỏ làm vành. Tốn bao nhiêu xin cũng chịu để lo cho cháu."

Ông bà viên ngoại nài nỉ
Lão trượng gật gù, vẻ mặt tươi lại :
"Hà. . .hà . . . Nhưng khoan. Quẻ này cũng cho thấy tiền hung hậu kiết. Lúc đầu gian khổ sau đó cứ đường mây thanh thản mà đi, mọi sự tốt lành . . . tốt lành . . , mà tốt cho cả . . . giang sơn xã tắc chứ không phải là tầm thường . . ."

Lão trượng vừa nói vừa vuốt chòm râu bạc và cười lên sảng khoái.
Vợ chồng viên ngoại tươi lên, nhưng cũng thắc mắc thêm:
"Xin sư phụ chỉ giáo thêm, chúng tôi phận hèn ngu dốt không biết gì hết."
"Thiên cơ bất khả lậu, chuyện Trời định ta không thể tiết lộ thêm, nhưng hai ông bà đừng lo nữa. Đáng lẽ ta người tu hành chỉ chăm lo việc tu tỉnh trên đỉnh Ninh Sơn. Nhưng chuyện này dính dáng lớn lắm ta không thể làm ngơ được, âu cũng là số Trời bắt ta đi ngang gặp thí chủ để đóng góp sau này."
"Dạ . . . xin ngài cho biết chúng tôi phải làm gì ." Viên ngoại khép nép.
"Thôi bây giờ như vầy nhá. Ta phải về núi trình với sư huynh , xin phép , sắp xếp mọi chuyện . Sau đó ta trở lại chữa trị cho quí tử trong một thời gian , và thật không biết bao lâu mới xong. Nhưng. .. nhưng . . . có điều khi cậu khỏe mạnh bình thường lại, cậu phải theo ta lên Ninh Sơn học đạo !"

- Ông bà viên ngoại mừng rỡ ra mặt, nhưng cũng giật thót người vì điều kiện bắt buộc con mình phải lên núi học đạo . Cụ ông nhăn nhó :
"Dạ . . . sư phụ cứu giúp chữa được bệnh nan y trợ giúp bản gia thì quả thật qúi hóa, tốn kém bao nhiêu bản gia cũng phải lo, ân sâu ghi đậm tâm khảm. Nhưng để cháu . . . lên núi học đạo trong khi . . . chỉ có nó là mụn con duy nhất thì bản gia này chưa một ngày xum họp mà đã chia lìa . Thật tội cho bản gia quá . . . !"
Cụ ông nhăn nhó trong khi cụ bà rơm rơm nước mắt vì nghĩ đến ngày không gặp con nữa.
" Hừ . . . ai tai, khổ ải . . .khó khăn. Ta rất thương cảm cho tình cảnh hai người, thật tình ta tu hành một thân một mình đâu cần ai theo cho vướng bận, nhưng đây là mệnh trời định sẵn, đến kẻ tu hành này vô can cũng phải tuân theo. Hay là hai thí chủ tịnh tâm suy nghĩ thêm tối nay. Ngày mai quyết định cũng được."
"Dạ sư phụ cho thêm thì giờ để suy tính cũng hay, chúng tôi xin đội ơn . Và . . . cũng khuya rồi mời ngài nghỉ lại tệ xá với chúng tôi. Tơ, con dọn phòng, lấy chiếu hoa mới trải giường cho sư phụ nghỉ ."
"Cám ơn thí chủ, mai ta đàm đạo tiếp vậy. Phòng ốc , giường chiếu không cần. Cám ơn."


- Đêm hôm đó, lão trượng vẫn ngủ dưới đất như thường lệ. Riêng vợ chồng viên ngoại gần như thức trắng để bàn thảo điều hơn, lẽ thiệt. Cuối cùng họ nghĩ không muốn con lên núi đi tu thì nó không bao giờ khỏi bệnh, chỉ nằm trên giường suốt đời, tựa như tàu lá làm sao chịu nổi, và tệ nhất mình không chu toàn bổn phận mẹ cha, dù có dư khả năng .

Còn để sư phụ chữa bệnh, nó sẽ toàn mạng rồi ăn nói đi đứng như người thường, sống cuộc đời đáng sống, dù sau đó phải lên núi tu hành trả nợ quỉ thần hay tiên thánh.

Đi tu rồi cũng có ngày sẽ về thăm nhà , và tu hành là việc làm cao cả không thể nghĩ là chuyện nợ nần tầm thường, đây có thể là một sắp đặt thiêng liêng để phục vụ Trời Phật, Thánh Thần . . . , phúc đức cho cả nhà, cả họ sau này.

- Sáng hôm sau, đợi lão trượng tham thiền xong, hai vợ chồng viên ngoại đã mời ngài dùng trà, điểm tâm bên nhà khách rồi mở lời :
"Bạch sư phụ, bổn gia đã cùng nhau bàn soạn suốt đêm, sáng nay xin thưa là ngài cứ tùy tiện chữa bệnh cho tiểu tử đến khi lành bệnh rồi dạy dỗ nó theo con đường tu hành cao quí của ngài. Có điều gì phải làm xin ngài cứ chỉ giáo. Toàn gia chúng tôi xin đội ơn công lao khó nhọc của ngài."
"Tốt lắm , thí chủ đã đồng ý. Xin vui lòng thực hiện mọi yêu cầu của ta, giúp ta tức là giúp qúi tử đó. Ta chỉ cần nơi thanh tịnh để thiền, ăn chay hàng ngày . Cấm không cho ai đến làm phiền trong khi chữa trị, cậu vẫn cần người săn sóc những việc thường ngày như ăn uống , tắm rửa . . vân . . vân . . . Căn nhà sau này được rồi, không cho ai lại gần trong lúc ta vận công chữa bệnh, thì giờ , cách thức rồi ta sẽ chỉ dẫn cho quen việc.
Xin đa tạ, đa tạ"

Lão trượng xòe tay ra bấm, tính:
"Này. . . ta sẽ về núi trình với sư huynh mất khoảng nửa tháng. Sau đó xuống đây khởi sự."

- Hôm sau viên ngoại cho gia nhân sắp xếp thêm phòng ốc và mọi thứ cần dùng cho vị lão trượng và con mình.
- Đúng nửa tháng, lão trượng trở lại quẩy theo cái tay nải đựng mấy cuốn sách. Ông vào rừng hái lá, ra tỉnh mua thêm mấy thứ thuốc bắc cùng sâm nhung để pha chế cao đơn hòan tán theo bài thuốc của Ninh Sơn .

Đến ngày khởi sự, lão trượng cho bầy hoa quả lên bàn thắp hương cầu Trời phù hộ cho cậu ấm chóng khỏi bệnh. Đứa tớ gái và bà viên ngoại bồng cậu lên phản. Lão trượng ngồi vận công một lúc rồi múa tay, vận nội lực, chụp bàn tay lên đỉnh đầu cậu ấm, rồi lần xuống gáy, lưng và ngực để xoa bóp, truyền nhân điện. Cứ thế làm đi làm lại nhiều lần. Khoảng hai giờ sau, như kiệt sức, lão lả người ra rồi lui vào phòng bế quan tọa thiền.
Cậu ấm được cho uống thuốc bắc, thuốc tễ mới chế. Mỗi ngày vào buổi sáng, bệnh nhân được lão trượng truyền nhân điện , rồi mẹ và đứa tớ gái cầm tay, nắm chân tập các cử động theo Ninh Sơn liệu pháp. Buổi chiều cậu được cho tập thêm các động tác khác , trong khi lão trượng nghỉ ngơi, tham thiền thu lại nội lực .

Sang tháng thứ hai thì người cậu ấm bắt đầu cục cựa được, tháng thứ ba thân mình lăn qua, lăn lại . Cứ thế tiếp tục đến nửa năm thì kết quả khả quan, cậu bắt đầu biết trườn mình một cách khó nhọc, rồi bò từ từ. Ninh sơn liệu pháp tập chậm, tốn thì giờ nhưng hiệu lực rõ dần. Được một năm cậu bắt đầu tập đi.

Năm kế, tức khi vừa 6 tuổi cậu đi đứng như một đứa trẻ bình thường. Nhưng vẫn chưa nói được. Nhà viên ngoại mừng lắm, ông bà thay nhau dẫn cậu quí tử đi vòng vòng chơi đùa trong vườn, vẫn không cho gặp ai bên ngoài sợ bị chọc ghẹo là cậu câm.

Ông bà soạn nguyên mâm vàng bạc để tạ ơn lão trượng và định tổ chức đại tiệc ăn mừng với gia đình, bạn bè và xóm làng. Nhưng lão trượng lắc đầu từ chối không nhận thứ gì , ông nói nếu muốn thì hãy mua thêm nhiều ngựa về nuôi để có việc lớn sau này, và thặng như dư dả hãy đem cúng các đền chùa, và giúp đỡ người nghèo.

Viên ngoại rất lấy làm bái phục đức độ cùng lòng từ bi của lão trượng, và y lời dặn cho gia nhân tậu thêm ngựa, và làm thêm nhiều chuyện từ thiện.
Riêng quí tử chưa nói được, lão trượng bèn dạy đọc và viết để hai thầy trò có thể viết , trao đổi ý kiến bằng chữ.

Độ năm sau cậu ấm bắt đầu bập bẹ tập nói. Lão trượng dạy dỗ thêm nửa năm nữa thì cậu khả năng nói năng trở nên bình thường.

Cậu thông minh, đĩnh ngộ hơn người, học một biết mười. Nhờ học đọc và viết sớm, dần dần cậu thông thạo thơ văn. Ngoài học hỏi về đạo học uyên thâm của núi Ninh Sơn, cậu cũng được lão trượng rèn luyện thêm các thứ khác như võ nghệ, bắn cung, xem xét binh thư . . .

- Thường ngày, khi rảnh rỗi, cậu thường theo cha cưỡi ngựa chạy lòng vòng trong gia trang, rồi dần ra ngoài. Thời gian trôi qua vùn vụt, cậu khỏe ăn lạïi tập tành võ nghệ, phi ngựa, bắn cung . . . nên chỉ mới hơn mười hai tuổi người cậu đã to lớn vạm vỡ như một thiếu niên 16, 17.

Một lần sau khi tham thiền lão trượng chợt kêu cậu lại :
"Này con, con đã thọ giáo khá nhiều, từ đạo học của bổn môn đến võ nghệ, binh thư, cung kiếm . . . Từ sau hôm nay con hãy lo chuẩn bị cho ngày thử thách sắp đến. Con nhớ lời ta dậy dỗ, kiên nhẫn, chịu đựng . . . dù bất cứ chuyện gì xảy ra nghe chưa."
"Dạ vâng, con xin ghi lời sư phụ, cố gắng hết sức mình."

Cậu nói xong nhưng đầu óc suy nghĩ miên man không biết thử thách gì đây, lúc nào . . .
"Riêng việc con tu hành ta chợt nghĩ lại. Cái này tùy con, dù khi trước ta có cho cha mẹ con hay là con phải lên núi với ta sau này."


Sáng hôm trong khi mọi người còn an giấc, lão trượng đã rời khỏi gia trang . Lão để lại lá thư từ giã với ông bà viên ngoại, nói thời gian ở đây đã tạm đủ, giờ phải trở về Ninh Sơn để tiếp tục tu hành.

Thư cũng nhắn nhủ cậu ấm đã qua cơn hoạn nạn, giờ khôn lớn, tu học đã nhiều, đây là thử thách đầu tiên phải vượt qua : cần học hỏi, tập luyện một mình, nghiên cứu kỹ càng thêm về binh thư , chiến lược hầu sửa soạn cho công việc hệ trọng sau này !
- Cậu ấm khóc rống lên vì xa thầy, nhớ thầy. Chẳng gì cũng nhờ thầy mà cậu tưởng đã chết đi nhưng được sống lại, được ngài chữa bệnh , uốn nắn, dạy dỗ bao năm . Cậu buồn bã liên tiếp mấy ngày. Nhưng rồi nguôi ngoai dần và nhớ lời thầy dặn đây là thử thách lần đầu phải vượt qua, cậu tập trung tinh thần trở lại với việc tập luyện , nghiền ngẫm thêm binh thư, nghiên cứu địa hình, thế trận . . .

Dần dần khi phi ngựa ra ngoài, cậu quen biết, và thu phục được nhiều bạn bè cùng lứa hay cả những người lớn tuổi hơn nhưng sẵn sàng tâm phục. Nhờ khá giả, dư dả phương tiện, nhiều người đã theo cậu về để tập luyện, luận bàn võ nghệ , binh thư . . .

Cậu còn chia ra hai , ba phe để tập đánh trận giả . Dần dần, cậu tuy trẻ người, nhưng đã tỏ ra gan dạ, giỏi giang về chuyện điều binh, khiển tướng. Dần dần họ xem cậu như một thiên tài xứng đáng làm thủ lãnh của đội quân ở đây. Thêm vào đó, cậu còn biến một nửa nhóm thành một đội kỵ sĩ thiện chiến . Viên ngoại chiều, thương con nhất mực nên rất vui khi thấy cậu say sưa lăn xả vào các hoạt động. Lại nhớ lời lão trượng dặn dò cần mua thêm ngựa để dùng vào việc sau này nên răm rắp y lời.


Lúc bấy giờ sau mấy năm toan tính , giặc phương bắc đã cho người tuần thú phương Nam để do thám ngọn ngành trong ngoài . Hùng Vương nghe tin cũng ra lệnh cho triều đình, quân sĩ chuẩn bị sẵn sàng ứng phó. Đồng thời ngài cũng sai sứ đi khắp nơi kêu gọi người tài ra giúp nước. Sứ đi rao truyền khắp nơi, khi đến làng Võ Ninh thì cậu ấm cùng thủ hạ đã phóng ngựa tới gặp :
"Bái kiến sứ giả. Chúng tôi, thanh niên làng Võ Ninh vừa nghe ngài kêu gọi đã sẵn sàng lên đường phục mệnh giết giặc ."
"Thật quá tốt, cám ơn vị tiểu anh hùng cùng các bằng hữu. " Vị sứ giả tươi cười . "Nếu mọi người ai cũng có tinh thần bảo vệ xứ sở, quê hương thật cao như các ngươi thì đất nước này còn phải lo gì nữa. Các ngươi ở đâu , lực lượng bao nhiêu , cần gì để ta về tâu lên với hoàng thượng."
"Thưa sứ giả, chúng tôi có khoảng hơn trăm quân, nhưng chỉ đủ ngựa cho 50 tay kỵ mã. Chúng tôi từng tập trận, nghiên cứu binh thư từ lâu theo sự chỉï dạy của ân sư. Xin vua ban cho chúng tôi thêm ngựa, gươm đao, áo giáp cho cả người lẫn ngựa. Chúng tôi đã tập đánh trận trên mình ngựa với trường thương để chống địch quân dưới đất . Thương này có đầu vót nhọn, làm bằng tre Đằng Ngà dẻo, bền của làng Gia Bình. Nếu vua ban thêm sắt để bọc đầu thương thì quá tốt."
"Được rồi các ngươi yên tâm, ta sẽ về bẩm với hoàng thuợng rồi sẽ cho hay việc quân binh ra sao."


Chỉ thời gian ngắn , sau khi thu thập tình hình thấy chuyện xâm chiếm nước Nam là khả dĩ, giặc phương bắc bắt đầu xua binh xuống . Lần lượt, các vùng sát biên thùy của ta bị mất dễ dàng trước sức tiến quân vũ bão của chúng. Sau nhiều ngày hung hãn đánh phá, cuối cùng chúng hạ trại gần làng Tên Du, cạnh rừng tre, lấy thế ỷ dốc dưới núi Châu.
Ngay khi đó, một đoàn xe thồ của triều đình cũng đưa quân dụng tới trang trại của viên ngoại . Vua ban cho cậu ấm một con ngựa ô lớn, một thanh trường kiếm, nhiều đoản đao cùng áo giáp cho bộ hạ, cộng vô số sắt để bọc đầu trường thương. Rất vừa ý, lại hãnh diện được vua ban cho trường kiếm và tuấn mã, cậu giơ cao cánh tay làm dấu, tất cả nghĩa quân đồng quì xuống :
"Chúng thần xin cúi nhận quân dụng hoàng thượng ban cho. Bái tạ hoàng thượng
Bái tạ
Bái tạ"
. . .


Tất cả hô to theo. Ngay sau đó , thợ rèn trong trang trại đã lo liền việc bọc sắt các mũi thương. Từ nay cậu và đoàn nghĩa quân không phải sử dụng đao, kiếm, thương . . . giả nữa.

Mọi người mân mê những võ khí mới, thật này rồi bắt đầu múa thử, và cùng nhau hăng hái tập dượt thêm . Riêng con ngựa của cậu ấm cũng được ban một bộ giáp sắt màu đen che kín đầu duy vẫn để hở cho hai bên mắt. Bộ giáp phủ chung quanh mình ngựa, cả từ cổ xuống ức để bảo vệ phần dưới . Vị quan đem quân lương, tiếp tế cũng cho biết sẽ còn một chuyến quân dụng khác nữa. Ông bà viên ngoaị gật gù tán thưởng và hãnh diện cậu ấm nay đã thành người hữu dụng cho vua, đất nước , và rạng rỡ tông đường. Ông bà cũng suýt soa khâm phục mọi chuyện xảy ra đúng y như lời tiên đoán của lão trượng từ bao năm trước . Vài ngày sau một vị đô úy dẫn theo vài sĩ tốt đến gặp cậu ấm để bàn luận việc quân.


Thấy quân xâm lược sau khi hạ trại quá mệt mỏi vì đường xa, phí sức đánh chiếm, thu nạp những nơi phải qua, nhất là phong thổ oi bức, nóng nực vào mùa Hạ ở phương Nam làm nhiều tên ngã bệnh. Theo đúng kế hoạch đã bàn, sau canh ba, trong lúc giặc còn say ngủ, nghĩa quân bắt đầu lên đường. Cậu ấm nai nịt gọn gàng, đầu đội nón sắt, cầm trường kiếm , cưỡi ngựa ô với giáp sắt oai phong lẫm liệt. Toán kỵ binh cũng áo giáp bó sát, tay cầm trường thương , còn quân bộ chiến cầm đoản đao lẹ làng, gọn gàng tiến lui . Tất cả người ngậm tăm, ngựa ngậm thẻ âm thầm ra trận. Gần canh năm, đoàn nghĩa quân tiến gần trại giặc án binh chờ đợi. Các dũng sĩ gan dạ, võ giỏi được chọn trước, bò vào hạ bọn quân canh, rồi mở rào, nổi lửa báo hiệu. Không chần trừ, đoàn kỵ binh đồng loạt tiến vào . Những con tuấn mã lồng lên, hí vang trời. Quân ta đánh mạnh và đốt các lều trại ! Quân phương Bắc bị đánh bất ngờ choàng dậy chạy, chết không kịp trối.
Thân chúng ngã ra khắp nơi ! Máu tuôn lai láng ! Giặc phương Bắc kêu la thảm thiết ! Có tên bỏ hết áo quần, vũ khí mà chạy. Trong khi đó từ bên sườn trái, quân triều đình cũng ập vô . Trước áp lực tấn công từ hai mặt, địch quân rụng rời tan rã. Chúng bỏ chạy về mé phải là khu rừng tre để cố thủ. Nhưng theo kế hoạch, nghĩa quân đã đem bùi nhùi núp sẵn chờ đợi tại đây. Họ châm lửa đốt cả cánh rừng. Mùa hè nóng nẩy, tre khô cháy bùng lên như củi rạ. Lửa reo ào ào, nổ lốp bốp. Địch không bị đốt cháy thì tro tàn văng phải cũng làm mù mắt, cháy xém quần áo . . .
Rất đông địch quân bị kỵ binh hạ bất ngờ khi còn say ngủ, quân triều đình áp tới cũng giết được vô số. Trận hỏa công nướng cháy luôn bọn còn lại rút vào rừng tre. Cuộc tấn công thành công không ngờ, giặc phương Bắc thua không còn manh giáp, và nhớ để đời bài học đừng nên dại dột xâm lăng phương Nam.


Sau khi kiểm lại chiến trường, chôn cất những người đã đền nợ nước, đưa thương binh cho ngự y chữa trị, mọi người mệt mỏi về nghỉ ngơi.
Trước cảnh hoang tàn, lửa cháy, người chết, máu tuôn, cậu ấm bỗng tự rùng mình. Cậu trầm tư suốt đêm có phải vì biết trước cảnh sinh linh tang tóc thế này mà sư phụ là người tu hành đã phải về núi để tránh . Cậu càng nghĩ, càng nhất định phải lên núi tu hành, lánh xa chốn bụi trần nhơ nhuốc, dù sư phụ đã dặn đó không phải là điều bắt buộc nữa.
Sáng hôm sau, sợ bạn bè bịn rịn khó đi, cậu ấm để lại lá thư từ giã anh em. Mặc lại quần áo tu hành sư phụ ban cho, cậu vào bái biệt cha mẹ. Cậu nói bổn phận trả nợ sơn hà, xã tắc đã xong, giờ con lậy cha mẹ một lậy bất hiếu để lên núi tu hành học đạo với thầy từ nay. Ông bà viên ngoại thương con, khóc hết nước mắt, nhưng biết chuyện này đã được định đoạt từ trước .

Trời mới mờ sáng, cậu leo lên ngựa, không cho ai theo tiễn biệt, phóng thẳng về hướng núi Vệ. Tới chân núi, cậu vuốt bờm , ôm giã từ con tuấn mã lần cuối rồi nhẩy xuống đất, đánh mạnh vào mông cho nó chạy trở lại gia trang. Cậu thanh thản cất bước lên núi.